“Bà lão chột mắt đó họ Ngô, trong nhà ngoài ông chồng bị điên thì chỉ còn một cô con gái độc nhất. Hai ông bà đều không lành lặn, nhưng cô con gái lại hoàn toàn khỏe mạnh, vừa xinh đẹp vừa thông minh. Cô ấy biểu diễn ở lầu Yên Vũ, chỉ bán tài nghệ chứ không bán da thịt, mọi người xung quanh đều yêu mến.”
Nói đến đây, tiểu nhị cười một cái rồi lại thở dài:
“Nhà ấy phải chật vật mãi, mấy năm nay gia cảnh mới khấm khá hơn, vậy mà cách đây không lâu cô con gái lại mất tích không rõ tăm hơi, hỏi ai người ta cũng bảo không thấy. Tìm kiếm nhiều ngày trời vẫn không thấy, mấy hôm sau ông chồng cũng biệt tăm. Tin dữ kéo tới liên hồi kì trận, bà Ngô cực chịu không thấu, nhưng chồng con chưa rõ sống chết ra sao, bà ấy quyết gắng gượng, phải tìm bằng được họ mới cam lòng. Từ đó về sau bà ấy vẫn đến nhà trọ kéo đàn như trước, nhưng tính tình càng ngày càng quái gở, hở ra là vô cớ nổi xung với người khác, chắc là hóa điên rồi.”
Vân Trần gật đầu, đặt một mẩu bạc vụn vào tay y:
“Đa tạ.”
Khuôn mặt tiểu nhị lập tức tươi hơn hớn, y vắt chiếc giẻ lau màu trắng trên tay lên vai, nở nụ cười xu nịnh:
“Con đội ơn công tử.”
Vân Trần xua tay ra hiệu cho y lui, nhìn xuống dưới một cái nữa rồi mới vào phòng.
Dưới tầng, hai người làm trong quán đã kéo bà Ngô ra đằng sau, đang rối rít xin lỗi người đàn ông ở đối diện. Sau một hồi mắng nhiếc, cuối cùng gã chỉ khoát tay, không truy cứu nữa.
Sở Tôn Hành đóng cửa lại, hỏi khẽ:
“Có cần thuộc hạ xuống đó điều tra không ạ?”
“Sao A Hành biết ta muốn nhúng tay vào chuyện này?” Vân Trần hỏi ngược lại.
Sở Tôn Hành chùi sạch vỏ kiếm, ngữ điệu lạnh nhạt nhưng vô cùng chắc chắn:
“Điện hạ vốn là người nhân hậu, từ trước đến nay vẫn thế.”
“Vậy ư?” Vân Trần nhìn về phía hắn, như cười như không. “Nhưng quan thái phó cứ bảo ta là một người tàn nhẫn, ngay cả mẫu hậu cũng nói cách xử sự của ta quá đỗi ác độc.”
“Sống trong cung cấm, nếu để người ta dễ dàng nhìn thấu nội tâm, há chẳng phải là đang đưa cổ ra cho người ta chém đó sao?” Sở Tôn Hành nói. “Biểu hiện bên ngoài khác với lòng dạ bên trong, âu cũng là chuyện bất đắc dĩ.”
“Vậy còn anh?” Vân Trần nhìn thẳng vào mắt hắn, nơi đáy mắt lấp láy chút mong chờ. “Lòng anh và những gì anh thể hiện ra bên ngoài, có giống nhau không?”
Sở Tôn Hành lặng thinh trước câu hỏi của chàng, hắn khẽ nắm đôi bàn tay, cúi đầu né tránh ánh mắt chàng.
“Thôi, ta không hỏi nữa.” Ánh sáng trong mắt Lâm Trầm chùng xuống, chành nhanh chóng chuyển chủ đề, tỉnh bơ như không. “Anh đi cùng ta xuống dưới thử dò la một phen, chưa biết chừng lại có thêm manh mối.”
Bấy giờ trời vừa sẩm tối, người người trên phố đều đang thu dọn hàng hóa về nhà. Vân Trần lang thang một vòng xung quanh mới biết được thêm mấy chi tiết vụn vặt. Cuối cùng, cả hai đi qua khu chợ, dừng lại trước một khu rừng rậm. Từ sâu trong rừng phát ra một đốm sáng le lói, một ngôi miếu hoang lờ mờ hiện ra, chính là chỗ ở hiện tại của bà lão chột mắt nọ mà hai người tốn bao nhiêu công sức mới thám thính được.
Sở Tôn Hành thắp lửa lên, để Vân Trần bám sát phía sau ở khoảng cách nửa bước chân, đi thẳng đến trước cửa miếu.
Bên trong ngôi miếu đã cũ nát hết cả, góc nào cũng giăng đầy mạng nhện, bốc mùi hôi thối, thỉnh thoảng còn nghe những âm thanh lạo xạo như tiếng chuột đi kiếm ăn ban đêm, xem chừng nơi đây đã bị bỏ hoang nhiều năm rồi.
Ở chính giữa miếu là một pho tượng Phật, thân tượng đã không còn rực rỡ sắc vàng như trước mà dày đặc các vết nứt, kiến và bọ đen cứ nối đuôi nhau bò ra từ bên trong. Dẫu vậy, vẫn có một bà lão đang thành tâm quỳ gối trước tượng Phật, hai tay chắp vào nhau, miệng liên tục lầm rầm khấn vái gì đó.
Chắc mẩm đây chính là bà Ngô, Vân Trần đang định bước tới hỏi vài câu, nhưng ngay khi nghe rõ lời khấn của bà lão, chàng liền ngẩn người.
“Xin Phật Tổ gia hộ cho con gái con là Thúy nhi được yên nghỉ.”
Thúy nhi?
Chàng nghĩ ngay đến lão điên thưa kiện trước ngự tiền kia, cái tên ông ta không ngừng lặp đi lặp lại chính là “Thúy nhi”. Tiểu nhị nói chồng bà Ngô cũng bị điên, lúc ấy chàng không chú ý, nhưng giờ nghĩ lại mới thấy, lão điên, huyện Nam Thủy, Thúy nhi – tất cả manh mối đều trùng khớp với nhau.
Chàng vô thức nhìn sang Sở Tôn Hành một cái, người kia cũng có phản ứng giống chàng. Một cảm xúc khó tả bỗng dấy lên trong tim Vân Trần, chàng vốn định lo chuyện bao đồng một phen, nào ngờ chó ngáp phải ruồi, trực tiếp đụng độ mục đích của chuyến đi lần này.
Cửa miếu đã mục nát, nằm ngổn ngang trên mặt đất. Vân Trần khẽ đá thanh gỗ đằng trước một cái để tạo ra tiếng động.
Bà Ngô từ từ quay người lại, đôi mắt trống rỗng, vẻ mặt đờ đẫn.
Ba người nhìn nhau một lúc lâu, ánh mắt bà Ngô mới dần dần tập trung vào họ, bà cất tiếng hỏi bằng giọng khàn khàn:
“Đêm khuya thanh vắng, hai vị công tử đến ngôi miếu hoang này có chuyện gì chăng?”
Vân Trần tránh gỗ vụn trên mặt đất, đi đến trước mặt bà, tìm một chỗ tương đối sạch sẽ rồi ngồi xuống:
“Chào cụ, hai đứa chúng cháu đang vân du đây đó, đi ngang qua chốn này thì nghe được chuyện của cụ và cô nhà trong quán trọ, chẳng hay chúng cháu có giúp được gì chăng?”
Nghe thấy từ “giúp”, bà Ngô khẽ cười một tiếng, những nếp sóng trên làn da nhăn nheo xô cả lên khóe miệng.
“Cái ao nước đục này mình tôi dấn thân là đủ, hà tất kéo theo hai cậu chết đuối cùng?”
“Sao cụ nói thế?” Vân Trần và Sở Tôn Hành nhìn nhau một cái.
Bà Ngô nhìn lướt họ từ trên xuống dưới, giấu đi vẻ nghi ngờ trên khuôn mặt, rồi lấy hai miếng bồ đoàn đã mốc meo đặt xuống trước mặt hai người:
“Nếu hai vị công tử không ngại bẩn thì cứ ngồi xuống, tôi già rồi, ngửa đầu lên nói chuyện hơi mệt.”
“Chắc hai vị không phải người trong giang hồ đang đi ngao du như đã nói.” Họ vừa ngồi xuống, bà Ngô liền chỉ vào Vân Trần, hơi cúi đầu mà nói. “Riêng bộ quần áo công tử đang mặc thôi cũng không phải thứ người trong giang hồ mua nổi, chắc là quan lớn mới phải.”
“Cụ tinh mắt quá.” Vân Trần khẽ gật đầu, bịa đại xuất thân. “Gia phụ quả thật là mệnh quan triều đình, ngặt nỗi cháu ham chơi, lại hay tò mò, nên mới nhân lúc người nhà không để ý, lẻn ra ngoài chơi.”
Chàng cố tình nhấn mạnh vào hai tiếng “mệnh quan”, thấy trong mắt bà Ngô rõ ràng có xao động, liền tiếp tục:
“Cụ cho cháu hay vì sao chuyện này lại nguy hiểm đến tính mạng được không?”
“Công tử có biết gần đây ở cái huyện Nam Thủy trù phú, thịnh vượng, vẻ như no cơm ấm cật này đã xảy ra bao nhiêu vụ mất tích rồi không?” Bà Ngô xoa bàn tay vào nhau, giọng nói già nua thoáng vẻ lạnh lùng. “Không phải chuyện của mình nên cũng chẳng ai đoái hoài, tính cả Thúy nhi, gần đây đã có ít nhất hơn mấy chục người mất tích rồi.”
“Đã báo quan chưa?” Sở Tôn Hành hỏi.
“Báo quan ư?” Bà Ngô nở nụ cười mỉa mai rồi buông một câu nhẹ bẫng. “Báo quan thì dễ đấy, nhưng còn lâu họ mới giải quyết cho. Xưa nay ‘cửa quan sáu cánh luôn rộng mở, có lí không tiền chớ vào thưa’ (1), hai vị công tử là con cháu nhà quyền quý, làm sao hiểu được cái lẽ sâu xa này?”
“Huống hồ ông Huyện sừng sững ở đó, công tử nghĩ xem, kẻ nào dám phạm thượng, gây rối kia chứ?”
Chú thích:
- “Cửa quan sáu cánh” miêu tả nha môn cấp huyện, châu thời xưa gồm ba gian, vì vậy nên có sáu cánh cửa; hoặc đại diện cho ba cơ quan tài phán (tam pháp ti), có thể bao gồm Đại Lí tự, Hình bộ, Ngự sử đài/Đô sát viện, tùy thời kì.


Bình luận về bài viết này